*** Y HỌC PHƯƠNG ĐÔNG *** NGUYỄN QUANG HƯNG *** HOTLINE : 0123 666 7879 ***

BẠCH THƯỢC


BẠCH THƯỢC
Tên thuốc: Radix Paeoniae Alba.
Tên khoa học: Palonia lactiflora Pall
Họ Mao Lương (Ranunculaceae)
Bộ phận dùng: củ. Dùng thứ to bằng đầu ngón tay hay ngón chân cái và dài 10 - 15cm, thịt trắng hồng, ít xơ. Thứ nhỏ, lõi đen sẫm là xấu. Ở Việt Nam chỉ có thứ nhỏ, xơ nhiều, vỏ ngoài nhăn nheo (mua của Triều Tiên).
Không nhầm với Xích thược: da đỏ đen, nhiều xơ.
Tính vị:   vị hơi đắng, chát, chua nhiều. Vào bốn kinh Tâm, Tỳ, Phế  và Can .
Tác dụng: thanh Can, tư âm, liễm âm khí.
Chủ trị: Dùng sống: trị đau nhức, trị các chứng tả, lỵ, giải nhiệt, nên dùng để trị cảm mạo do chứng hư gây nên.
- Sao tẩm: trị các chứng bệnh về huyết, thông kinh.
- Sao cháy cạnh: trị băng huyết.
- Huyết hư biểu hiện kinh nguyệt không đều, thống kinh và rong huyết: Bạch thược hợp với Ðương qui, Thục địa và Xuyên khung trong bài Tứ Vật Thang.
- Âm huyết hư dẫn đến dương thịnh biểu hiện ra mồ hôi trộm (đạo hãn), tự ra mồ hôi (tự hãn): Bạch thược phối hợp với Long cốt, Mẫu lệ và Phù tiểu mạch.
- Cơ thể suy yếu do phong hàn từ bên ngoài xâm nhập biểu hiện tự ra mồ hôi và sợ gió: Bạch thược phối hợp với Quế chi trong bài Quế Chi Thang.
- Can khí trệ biểu hiện đau nghi bệnh, cương vú và kinh nguyệt không đều: Bạch thược phối hợp với Sài hồ và Ðương qui trong bài Tiêu Dao Tán.
- Chuột rút cơ, đau bàn tay bàn chân hoặc đau bụng:  Bạch thược phối hợp với Cam thảo.
- Ðau bụng mót rặn trong bệnh kiết lị:  Bạch thược phối hợp với Hoàng liên, Mộc hương và Chỉ xác.
- Ðau đầu chóng mặt do can dương vượng. Bạch thược phối hợp với Ngưu tất, Câu đằng, Cúc hoa
Liều dùng: Ngày dùng 6 - 12g.
Cách bào chế:
Theo Trung Y: Dùng bạch thược nên lấy dao tre cạo sạch vỏ ngoài, tẩm mật loãng độ 3 giờ, phơi khô (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Luận).
Sách Bản Thảo Cương Mục viết: "Phần nhiều dùng sống, muốn tránh hàn thì tẩm sao".
Phối hợp với huyết dược của phụ nữ thì tẩm giấm sao.
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Dùng sống rửa sạch, phơi khô, dùng đến đâu đập dập. Rửa sạch, ngâm nước 2 - 3 giờ vớt ra ủ một đêm, hôm sau đem đồ mềm, ủ bao tải lại cho nóng, bào mỏng, sấy hay phơi khô. Không nên ngâm lâu mất chất (ra nước trắng).
- Rửa sạch, ngâm qua 2 - 3 giờ, đồ qua, mở vung cho bay hơi, đậy vung lại để giữ nóng. Lấy dần ra bào mỏng, nếu nguội thì rắn khó bào. Làm ngày nào hết ngày hôm đó, không để sang ngày hôm khác (thường dùng).
Theo kinh nghiệm Viện Đông y: Rửa sạch, ngâm nước thường 1 - 2 giờ (với thời gian ngâm này, chưa tiết ra nước trắng), ủ 1 - 2 đêm. Bào mỏng (thái thì đẹp nhưng lâu công) 1 - 2 ly, sao qua.
Nếu không ngâm chỉ ủ thôi thì 4 - 5 đêm mới mềm và sau mỗi đêm phải rửa nếu không thì mốc, và mỗi lần rửa như vậy thì nước rửa hoá ra nước trắng.
Dùng chín: có thể tuỳ theo đơn:
Tẩm giấm sao qua hoặc sao cháy cạnh.
Tẩm rượu sao qua.
Bảo quản: chưa bào chế thì thường phải sấy diêm sinh. Đã bào chế rồi thì để nơi khô ráo, tránh ẩm.
Ghi chú:
Thuốc tương tác với Lê lô
Kiêng ky: trúng hàn, đau bụng tiêu chảy thì không nên dùng.